Chiều nay sương khói lên khơi

Chuyên mục: Trang âm nhạc ( Nghiên cứu - Giới thiệu CD - MV ) Được đăng: Thứ năm, 03 Tháng 5 2012 Viết bởi Hà Đình Nguyên

HÀ ĐÌNH NGUYÊN

Trong những ca khúc đầy tâm trạng hoài hương, mang nỗibuồn man mác như: Làng tôi (Chung Quân), Hướng về Hà Nội (Hoàng Dương), Quê mẹ(Thu Hồ), Làng tôi (Văn Cao), Ngày về (Hoàng Giác)... thì Thuyền viễn xứ củaPhạm Duy dù có buồn nhưng giai điệu khác hẳn: lạ hơn, sang trọng hơn...

Bạn thân của tôi, nhà báo Trần Thanh Bình, có một giọng hát khá tốt cho nêntrong những lúc ngà ngà cuộc bia thường được đề nghị hát giúp vui (không đềnghị... cũng hát), và hầu như lúc nào anh cũng cất lên: “Chiều nay sương khóilên khơi. Thùy dương rũ bến tơi bời. Làn mây hồng pha ráng trời. Sóng Đà Giangthuyền qua xứ người. Thuyền ơi, viễn xứ xa xưa. Một lần qua dạt bến lau thưa.Hò ơi, giọng hát thiên thu. Suối nguồn xa vắng, chiều mưa ngàn về...”(Thuyềnviễn xứ). Giọng hát nghiệp dư của Trần Thanh Bình chỉ cỡ đó, nhưng cũng đủ làmxuyến xao tâm hồn người nghe, nói chi được thưởng thức tiếng hát của những danhca như Thái Thanh, Sĩ Phú.

Bài thơ của một cô gái

Thế nhưng, nhiều người chỉ biết Thuyền viễn xứ là của Phạm Duy chứ chẳng mấy aiđể ý rằng đây là một ca khúc phổ nhạc, dù trên bìa bản nhạc (thời đó, từ đầuthập niên 1940 cho đến 1954 trong toàn quốc, cả Cao Miên, và từ 1954 đến 1975 ởmiền Nam, những bản nhạc được xuất bản dưới hình thức in rời bằng giấy cứng khổlớn in 2 mặt, gấp lại ở giữa), Thuyền viễn xứ được cả hai nhà xuất bản Tinh Hoavà Á Châu ấn hành đều ghi rõ: nhạc: Phạm Duy, thơ: Huyền Chi.

                                                      Huyền Chi lúc 18 tuổi

Huyền Chi là bút danh của Hồ Thị Ngọc Bút, sinh năm 1934 tại Từ Sơn (Bắc Ninh),theo gia đình vào Nam từ trước năm 1954. Lúc mới vào Nam (1948-1949), cô ở vớichị gái tại Đà Lạt, sau đó về Sài Gòn (1950) vừa đi học vừa phụ mẹ trông nomsạp vải ở chợ Bến Thành. Bài thơ Thuyền viễn xứ là một trong 22 bài thơ nằmtrong tập thơ Cởi mở của Huyền Chi xuất bản năm 1952, trong thời gian cô sinhhoạt với một nhóm văn nghệ sĩ trẻ và làm thư ký tòa soạn chuyên trách mục thơcho Tạp chí Phụ Nữ của bà Nguyễn Thị Lan Phương. Và đây là nguyên văn bài thơ Thuyền viễn xứ, mà tác giả là một côgái 18 tuổi:

Ra khơi sương khói một chiều/

Thùy dương rũ bến tiêuđiều ven sông

/Lơ thơ rớt nhẹ menlòng/

Mây trời pha ráng lụahồng giăng ngang

/Có thuyền viễn xứ ĐàGiang

/Một lần dạt bến quangàn lau thưa/

Hò ơi! Câu hát ngànxưa

/Ngân lên trong mộtchiều mưa xứ người

/Đường về cố lý xa xôi

/Nhịp sầu lỡ bước,tiếng đời hoang mang

/Sau mùa mưa gió phũphàng/

Bến sông quay lại,hướng làng nẻo xa

/Lệ nhòa như nước sôngĐà/

Mái đầu sương tuyếtlòng già mong con/

Chiều nay trời nhẹxuống hồn

/Bao nhiêu sương khóichập chờn lên khơi/

Hai bờ sông cách biệtrồi/

Tần Yên đã nổi bốntrời đao binh/

Ngàn câu hát buổi quânhành

/Dặm trường vó ngựađăng trình nẻo xưa/

Biết bao thương nhớcho vừa/

Gửi về phương ấy mịtmờ quê hương/

Chiều nay trên bếnmuôn phương

/Có thuyền viễn xứ lênđường... lại đi...

 

Duyên văn nghệ

Tuy lời thơ có vẻ... cổ phong (vốn là chuẩn mực vào thời đó) nhưng vẫn toát lênmột nỗi buồn man mác. Bố cục bài thơ cũng rất “chắc tay”, hồn thơ tinh tế. Tập thơvừa in xong tại nhà in Sống Chung trên đường Trần Hưng Đạo thì tình cờ HuyềnChi gặp nhạc sĩ Phạm Duy khi ông đến thăm bà Đào (chủ nhà in). Cô ký tặng nhạcsĩ tập thơ Cởi mở. Cũng nghĩ là chút duyên văn nghệ thế thôi, bởi đó là lần gặpgỡ duy nhất giữa hai người. Vậy mà người được tặng tập thơ đã chọn một bài thơlục bát rất... truyền thống trong tập thơ ấy để phổ thành ca khúc. Điều đángnói là nhạc sĩ Phạm Duy đã trổ tài “phù thủy” khiến trong ca khúc phổ thơ củaông, khó ai tìm thấy bóng dáng của thể loại lục bát. Đã vậy, đoạn giữa đượcchuyển qua âm giai trưởng nghe vừa xa vắng, vừa rạo rực mênh mang: “Nhìn về đường cố lý, cố lý xa xôi. Đời nhịpsầu lỡ bước, Bước hoang mang rồi. Quay lại hướng làng, Đà Giang lệ ướt nồng. Mẹgià ngồi im bóng. Mái tuyết sương mong con bạc lòng...”.

Trong quyển Hồi ký Phạm Duy (tập 3, ấn bản 2008), tác giả viết: “Gần hai năm đãtrôi qua kể từ khi tôi bỏ vùng quê vào Hà Nội, rời miền Bắc vào miền Nam,lo ổn định nơi ăn chốn ở và thu xếp công kia việc nọ ở Sài Gòn... Vào thời điểmnày (trước cuộc di cư 1954), Huyền Chi, một cô em bán vải ở chợ Bến Thành đưacho tôi phổ nhạc bài thơ nhan đề Thuyền viễn xứ. Bài thơ này nói lên tâm trạngmột người Bắc Việt phải rời bỏ bến Đà Giang để vào sinh sống tại miền Nam.Phổ nhạc xong bài thơ nhớ miền viễn xứ, trong tôi lại nổi dậy sự viễn mơ củabài Bên cầu biên giới năm xưa, tôi bèn soạn bài Viễn du...”.

Huyền Chi lập gia đình với giáo sư Trần Phụng Tường vào năm 1954, và theo chồngra Phan Thiết, nơi ông đang dạy Pháp văn ở Trường trung học Phan Bội Châu. Ởđây bà mở hiệu sách Bút Hoa và dạy Anh văn.

Nguyễn Phước Thị Liên, một cựu học sinh của Trường trung học Phan Bội Châu, đã“vẽ lại” chân dung của Huyền Chi như sau: “Huyền Chi là một phụ nữ đẹp, tài sắcvẹn toàn. Cô có nước da trắng khỏe, dáng người cao, gương mặt tươi, miệng cườihiền hậu dễ mến, tà áo dài màu thiên thanh đài các trong những chiều lộng gió,khi thầy cô sánh vai giữa thành phố Phan Thiết, đã làm xao xuyến bao tâm hồn nữsinh lúc bấy giờ...” (Kiến Thức Ngày Nay số 768 tháng 12.2011).

Sau 1975, gia đình bà Huyền Chi chuyển vào Sài Gòn. Bà hiện vẫn còn sống tạiđây, còn chồng bà - ông Trần Phụng Tường mất năm 2010. Trong 7 người con củahai ông bà có 4 người hiện ở Việt Nam, 3 người ở nước ngoài. Chắcchắn những người con ở xa quê này cũng sẽ có tâm trạng như mẹ của mình vào hơnnửa thế kỷ trước, khi: “Chiều nay gửi tớiquê xưa. Biết là bao thương nhớ cho vừa. Trời cao chìm rơi xuống đời. Biết làbao sầu trên xứ người. Mịt mờ sương khói lên hương. Lũ thùy dương rủ bóng vensông. Chiều nay trên bến muôn phương. Có thuyền viễn xứ nhổ neo lên đường...”(Thuyền viễn xứ).

Hà  Đình Nguyên

 

Lượt xem: 1798

© NongLamSucTayNinh.com 2011 - 2017. Thiết kế website tại Thanh Lý Cao Su

Email  quocdongmusic@gmail.com , nqnam53@gmail.com